Phân tích hình tượng Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng

Phân tích hình tượng Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng

Hướng dẫn

Các nhà văn trong giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX hầu hết bị gò bó trong khuôn mẫu nhất định. Chúng ta ít gặp cái tôi cá nhân mà chỉ thấy cái gì đó chung chung. Chúng ta đã từng thấy một người phụ nữ dõng dạc khẳng định nữ quyền, tài năng và phẩm hạnh của mình – Hồ Xuân Hương. Trong chương trình Văn học 11 ta được làm quen bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ, ông là người khẳng định tài năng, phẩm chất của mình.

Nguyễn Công Trứ sinh năm 1778 mất năm 1858 là người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông sinh ra trong gia đình quen nề nếp nho phong. Ông có một con đường học hành, công danh sự nghiệp khá trắc trở nhưng ông luôn ý thức về mình. Ông có thái độ khinh thường cuộc sống xung quanh và trong Bài ca ngất ngưởng ta thấy rõ điều đó. Mở đầu bài thơ? tác giả dùng một câu thơ chữ Hán:

Vũtrụ nội mạc phi phận sự

Ông đã khẳng định không có việc gì trên trời đất không phải việc của mình, ông coi mọi việc ông đều phải có trách nhiệm vì ông có ‘chí nam nhi’. Nguyễn Công Trứ đã thể hiện cái chí nam nhi, nợ tang bồng trong rất nhiều bài thơ của mình:

Chí làm trai nam, bắc, đông, tây,

Cho thoả sức vẫy vùng bốn bể.

Ông coi kẻsĩ, người nam nhi phải thực hiện được tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Và ông đã không chỉ nói suông mà thực thi chí làm trai bằng con đường khoa cử. Bằng chứng là ông đã thi cử khá nhiều lần nhưng đều không gặp may cho đến năm ông bốn hai tuổi mới đỗ giải nguyên. Nguyễn Công Trứ nghĩ là phải có công danh, sự nghiệp mới thực hiện được hoài bão lớn lao, cái chí làm trai của mình. Ông đã làm khá nhiều chức quan trong triều, ông là người có tài nhưng ông cho rằng:

Ông Hi Văn tài bộ dã vào lồng,

Ông tự gọi tên ‘Hi Văn’ lên đầy tự hào, vẻ vang, Hi Văn là tên chữ của Nguyễn Công Trứ. Hi là hiếm, Văn là những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Tên chữ Hi Văn của ông đã giúp ta thấy một phần tài năng và cũng là sự kiêu hãnh của ông. Tác giả tự gọi mìnhlà ‘ông’ đầy tôn trọng, ông với tài bộ làm cho người ta kính nể hơn. Nhưng ông tài bộ đã vào lổng. Ta có thể hiểu ba chữ ‘đã vào lồng’ theo nhiều nghĩa khác nhau. Có ý kiến cho rằng lồng là vũ trụ, trời đất bao la, ông đã vào lồng là vũ trụ trời đất bao la, ông đã vào lồng để nói đến sự nghiệp làm quan của mình, vào lồng tức là vào chốn quan trường gò bó. Ta thấy dù hiểu theo nghĩa nào thì Nguyễn Công Trứ vẫn hiện lên là người phóng khoáng, không thích gò bó để thực hiện con đường công danh của mình:

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng.

Lúc bình Tây, cờ đại tướng,

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên

Nguyễn Công Trứ đã sử dụng điệp từ, nhịp thở rất hay để nói vềcuộc đời làm quan của mình. Ồng mở dầu bằng từ ‘Thủ khoa’ đầy hãnh diện và tự hào, tiếp sau đó là Tham tán, Tổng đốc Đông, bình Tây, đại tướng, Phù doãn Thừa Thiên. Qua sự nghiệp công danh của ông cũng trắc trở như con đường khoa cử: có lúc làm đại tướng nhưng có khi làm lính biên thuỳ. Ông làm gì cũng hoàn thành trọng trách. Đó là một điều đáng quý của ông. Con đường khoa cửsự nghiệp của ông đã làm nên tay ngất ngưởng. Và cái ngất ngưởng còn thể hiện cả khi ông đã về hưu.

Xem thêm:  Phân tích Bài ca ngất ngưởng Nguyễn Công Trứ

Ông có lúc làm quan to trong triều, khi các quan về hưu thì phải có nghi lễ ra đi và vấn vương triều đình, yến tiệc nhưng khi Nguyễn Công Trứ về thì chỉ ‘Đô môn giải tổ chi niên’ rất bình thường, lặng lẽ và ngất ngưởng khi ông:

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.

Các quan cưỡi ngựa, thì Nguyễn Công Trứ lại cưỡi bò, một con bò cái. Nhưng con bò này trở thành ngất ngưởng khi ông đeo đạc (vốn là một thứ trang sức giành cho gia súc quý trong nhà như ngựa) cho con bò của mình. Không những thế, xưa kể lại ông lại lấy mo cau che phẩn phía sau con bò và ông gọi là bịt miệng thế gian. Ông khinh thường kẻ quanh mình – bọn quan lại. Và ông đã có sự thay đổi lớn là từ tay kiếm có quyền lực vậy mà nên dạng từ bi. Ông bỏ lại quá khứ cái nghiệp làm quan sau lưng, trước mắt ông. là tương lai với cuộc vui chơi, hành lạc rất ngất ngưởng. Ông nhìn núi ‘phau phau mây trắng’ rất thanh cao để nói vềcuộc đời của ông. Nhưng Nguyễn Côn£ Trứvốn là người lạc quan, yêu đời nên ông đã tìm thú vui lúc thanh nhàn:

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Ông thật ‘ngất ngưởng’ khi vào chùa có cảcỏ đầu đi theo. Ông đủng đỉnh chậm rãi, từ tốn vì giờông đã cáo quan, nhàn rỗi. Và:

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Phật không trách mà như đã hiểu ông nên cười thật khoan dung đồng ý. Khi về hưu, ông không quan tâm về được và mất, về lời khen, tiếng chê mà ông chỉ coi như những ngọn gió thoảng ngoài tai, ông vẫn vui:

Được mất dương dương người tái thượng,

Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Ông là một người không Phật, không tiên nhưng cũng ‘không vướng tục’. Ông là một người theo đạo Nho, một lòng trung quân:

Nghĩa vua tôi trọn vẹn dạo sơ chung

Ông một lòng trung với nước, thương dân. Khi giặc Pháp xâm lược, ông đã tám mươi tuổi nhưng vẫn dâng sớ xin vua đi đánh giặc. Và ông còn lập ra huyện Tiền Hải và Kim Sơn trong đời làm quan của mình.

Và ông khẳng định:

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

Tác giả đã sử dụng năm lần từ ‘ngất ngưởng’ (kể cả tên bài) dồn sức nặng vào câu tổng kết đế khẳng định cho thấy rõ một tư thế, một con người, một phẩm chất, một tính cách giữa đời thường, khác kẻ xung quanh. Ông đi giữa đời mà như không thấy ai, chỉ thấy mỗi mình. Đó không phải ông cảm thấy cô đơn như các nhà văn thời trước mà ông thấy tự hào về chính con người mình.

Bài ca ngất ngưởng viết theo thể loại ca trù, viết để Nguyễn Công Trứ tự khẳng định tài năng phẩm hạnh của mình, thấy được mình trong cuộc đời rộng lớn. Tác giả đã viết biết bao bài khác nói về chí làm trai… nhưng hiếm thấy bài nào rõ ràng như thế này. Ta cảm thấy khâm phục ‘ngất ngưởng’ của Nguyễn Công Trứ trong xã hội phong kiến đương thời.

Nguồn: Vietvanhoctro.com

Xem thêm:  Tinh thần nhân đạo của Kim Lân qua truyện Vợ nhặt

Từ khóa tìm kiếm:

  • Phan tich hinh anh ông ngat nguong